Người lính bắt sống tướng Đờ Cát bây giờ thế nào?
8:14 AM | 06/11/2013
Ở vùng đất cói Nga Sơn có một người lính, một nhân chứng lịch sử quan trọng trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Được kết nạp Đảng sau chiều định mệnh

Trong cái nắng gay gắt của tiết trời tháng 4, chúng tôi đã vượt gần 50km từ TP. Thanh Hóa về thôn 8, xã Nga Hưng, huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) gặp một nhân chứng lịch sử đã tham gia bắt sống tướng Đờ Cát vào chiều ngày 7/5/1954. Đó là Tiểu đoàn trưởng Đào Văn Hiếu.

Bước vào cổng nhà, chúng tôi không ngờ ông Hiếu ở cái tuổi đời 80 (58 tuổi Đảng, 24 tuổi quân) trông vẫn khá khỏe khoắn, nước da ngăm đen.

Ông Đào Văn Hiếu-một nhân chứng lịch sử trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.

Xuất thân từ một gia đình nông dân, nhà có hai anh em, ông Hiếu là anh trai đầu. Lớn lên thấy cảnh thực dân Pháp xâm lược, đàn áp bà con, ông Hiếu quyết tâm sẽ chiến đấu để rửa thù. 

Cơ hội đến khi năm 1949 ông Hiếu tham gia du kích tại Hói Đào – xã Tân Đức (nay là xã Nga Thanh và xã Nga Liên, huyện Nga Sơn), rồi đến tháng 8/1950 tham gia nhập ngũ vào Trung đoàn 44 đóng tại Nông Cống - Thanh Hóa. Sau một năm huấn luyện, ông được chuyển vào Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn 312.

Vào chiến trường ông lần lượt tham gia các chiến dịch: Chiến dịch Hòa Bình (1952), Chiến dịch Tây Bắc Lào lần 2 (1952), Chiến dịch Thượng Lào (1953) và Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).  

Ngày đầu tiên tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ của ông Hiếu là đánh vào cứ điểm Him Lam rồi đến các cứ điểm E1, D2, 105A, 106. Cả đơn vị của ông lúc đó có hơn 160 người. Tất cả anh em đồng đội kề vai sát cánh đánh cho đến ngày thứ 56 lịch sử.

Ông Hiếu chia sẻ về những năm tháng hào hùng: “Cuộc sống của người lính vất vả lắm, 56 ngày đêm không tắm rửa, ăn mặc rách rưới, thức ăn chỉ có rau muống khô, măng khoai, nếu có lắm thì được miếng thịt trâu khô là sướng rồi. Có khi cơm trộn bùn cũng phải ăn… Đời lính vất vả là thế nhưng những hình ảnh về người lính cụ Hồ vẫn hiên ngang và tỏa sáng. Càng trong lúc mưa bom bão đạn càng quyết tâm giết giặc, đó là tinh thần của người lính Việt Nam ta. Đã là bộ đội là phải đánh giặc, đánh giặc là nhiệm vụ cao cả”.

Ông Hiếu kể chuyện sang sảng trong căn nhà nhỏ 3 gian khiến chúng tôi như được ngược dòng lịch sử gặp những người lính anh dũng năm nào.

Ông Đào Văn Hiếu và các em nhỏ tại bản Phù Nông, Phú Yên.


Ông Hiếu nhớ lại: “Trong trận đánh ấy, quân ta hy sinh rất nhiều. Đơn vị của chúng tôi nhận được lệnh đánh từ đêm mùng 6/5. Đánh ròng rã suốt đêm đến 8h sáng ngày 7/5 chúng tôi lại nhận được lệnh của Bộ chỉ huy là phải nhanh chóng triệu quân đánh tiếp. Nhiệm vụ của đơn vị tôi là mở đường vây 209 đánh thẳng vào Mường Thanh bắt sống tướng Đờ Cát, lập công mừng sinh nhật Bác Hồ và trả thù cho đồng đội, trả thù cho nhân dân Điện Biên Phủ. Sau khi nhận được lệnh, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật nhanh chóng dồn quân, lúc này cả chỉ huy và lính chỉ còn vẻn vẹn 34 người tiếp tục đánh vào Mường Thanh tiêu diệt cơ quan đầu não địch. Đánh từ 8h sáng đến 4h chiều ngày 7/5 thì còn lại được 5 người…”.

Nói đến đây ông Hiếu thở dài và lặng im trong chốc lát, rồi ông cho hay 5 người may mắn sống sót đó là Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật (quê ở Thái Bình), Nghĩa Lam (quê ở Nghệ An), Hoàng Đặng Vinh (quê ở Hải Hưng), Bùi Văn Nhỏ (quê ở Nghệ An) và ông.

Khi đến cầu Mường Thanh thì cả 5 người bị khẩu 14 ly 5 (loại 4 nòng) của địch bắn chắn ngay cầu không cho sang. Nhưng sau đó, được sự hỗ trợ hỏa lực từ khẩu DKZ và một khẩu đại liên của quân ta bắn trả, rất nhanh cả 5 người lọt sang qua cầu và tiến vào khu vực được coi là trung tâm đầu não của địch. Nhiệm vụ của 5 người lúc này là tìm và bắt sống tướng Đờ Cát.

Ông Hiếu kể tỉ mỉ từng chi tiết buổi chiều định mệnh: “Trong lúc khói đạn mịt mù, không biết tìm căn cứ ẩn nấp của tướng Đờ Cát ở đâu thì may thay chúng tôi bắt được một tên lính Pháp và bắt nó chỉ điểm sở chỉ huy. Theo hướng tay của tên lính, chúng tôi thấy một ụ đất cao nằm ở phía Tây, xung quanh kín mít. 

‘Hiếu, Lam tấn công cửa phía bắc, Luật, Vinh và Nhỏ tấn cống cửa phía nam, dùng lựu đạn, thủ pháo và tiểu liên tiêu diệt hai ụ pháo ở hai đầu hầm xuống bắt sống tướng Đờ Cát’, câu mệnh lệnh của Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật vừa dứt thì chúng tôi chia làm hai hướng tấn công vào sào huyệt của địch. Sau khi công phá được hai ụ pháo hai bên cửa, chúng tôi ập vào và thấy 34 sĩ quan của Pháp và tướng Đờ Cát ú ớ bất động.
Vì bọn chúng là người Pháp nên Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật đã dùng tiếng Pháp nói với chúng đại ý là ‘bỏ súng xuống, dơ tay lên, các ông đầu hàng đi, các ông thua rồi’. Và thế là tướng Đờ Cát cùng 34 sĩ quan Pháp dơ hai tay từ từ chui lên khỏi hầm. Áp giải tù binh được khoảng 15m chúng tôi gặp quân mình ở ngoài và giao cho chỉ huy Trung đoàn 209 và nhận lệnh quay lại tiêu diệt trận địa pháo 105 cách hầm Đờ Cát khoảng 30m. Sau khi tiêu diệt xong trận địa pháo chúng tôi reo hò trong chiến thắng, anh Luật đã lấy kẹo bánh và nước uống trong hầm Đờ Cát phát cho chúng tôi. Lúc đó niềm vui khôn tả không thể nói hết bằng lời”.

Ngay sau chiến thắng oanh liệt đó, ông Hiếu đã được kết nạp Đảng và cũng mang thương tật 2/4.

Bình lặng sau chiến công hiển hách

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Hiếu ở lại đơn vị công tác, cho đến năm 1959 mới trở về làng trong những giọt nước mắt của người mẹ già chờ con dòng dã 9 năm trời. Cưới vợ và sinh ra được 5 người con thì năm 1966 ông lại lên đường vào chiến đấu tại chiến trường B thuộc Sư đoàn 338 đóng tại Thanh Hóa. Năm 1974, ông xuất ngũ về quê bắt đầu một cuộc sống bình dị và thầm lặng.

Những ngày tháng sống ở quê nhà, ông đã không màng tới danh vọng, không cho ai biết mình là một trong 5 người đã tham gia bắt  sống tướng Đờ Cát tại chiến dịch Điện Biên Phủ vang vọng một thời. Chẳng ai biết được người lính già ấy là một niềm tự hào của dân tộc Việt Nam và đồng đội chẳng ai biết “Hiếu điếc” nay đang ở đâu, còn sống hay không.

Ông Hoàng Đăng Vinh và ông Đào Văn Hiếu, hai chiến sĩ bắt sống tướng Đờ Cát gặp mặt tại Bắc Ninh năm 1999.

Chiến tranh đã đi qua nhưng kỷ niệm về tình đồng chí, đồng đội trong ông Hiếu không bao giờ phai nhòa, đặc biệt là trong cái buổi chiều lịch sử ngày 7/5/1954. Hòa bình được lập lại, nỗi băn khoăn đó đã được giải tỏa khi trên phương tiện truyền thông ông Hoàng Đăng Vinh nhắn tìm đồng chí Đào Văn Hiếu (tức Hiếu điếc). Thông tin đó đến được với ông Hiếu khi hội cựu chiến binh huyện Nga Sơn đến thăm hỏi và ông Hiếu chỉ cười, nói: “Phải, chính là tôi, Hiếu điếc đây”.

Cuộc sống bình dị của ông Hiếu bên người vợ chung thủy.

Năm 1999, người đồng đội tham gia bắt sống tướng Đờ Cát, ông Hoàng Đăng Vinh mời ông Hiếu ra nhà chơi. Cuộc gặp gỡ sau bao nhiêu năm xa cách đã làm những người lính Điện Biên năm nào rơi lệ.

“Chúng tôi đã khóc trong tiếng gọi ‘Vinh lì’, ‘Hiếu điếc’. Những tháng năm gian truân đã đi qua, lịch sử đã khép lại, 5 người chúng tôi ngày ấy đến bây giờ gặp lại chỉ còn tôi và anh Vinh. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật và anh Bùi Văn Nhỏ đã không còn. Hiện nay thông tin về Nguyễn Lam vẫn đang còn mù mịt…”.

Giờ đây, ông Hiếu và ông Vinh mỗi người sống mỗi nơi nhưng họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau để nối lại tình đồng chí, đồng đội như ngày nào tham gia chiến tuyến. Mái tóc của hai người lính ấy đã ngả màu bạc nhưng đối với họ năm tháng lịch sử hào hùng ấy vẫn sống động như hôm qua.

Theo Kiến thức